SSI Research: Tăng trưởng cao chưa đủ kéo dòng tiền trở lại thị trường cổ phiếu

Các chuyên gia cho rằng câu chuyện của Việt Nam đang chuyển từ tăng trưởng cao sang giai đoạn xây dựng năng lực và thực thi. Với thị trường cổ phiếu, cơ hội không còn nằm ở mặt bằng chung, mà ở khả năng chọn đúng nhóm hưởng lợi từ dòng vốn, đầu tư hạ tầng và quá trình nâng chất lượng thị trường.

Tăng trưởng cao bước vào phép thử thực thi

Trong báo cáo chiến lược tháng 7 với chủ đề “Mạch ngầm”, SSI Research giữ nguyên dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam năm 2026 ở mức 8,5 - 9,0%. Dữ liệu nửa đầu năm cho thấy Việt Nam tiếp tục nằm trong nhóm nền kinh tế tăng trưởng cao của khu vực, với GDP tăng 8,18%, riêng quý II tăng 8,39%.

Nhu cầu đầu tư tiếp tục là điểm hỗ trợ. Vốn FDI đăng ký nửa đầu năm đạt 34,65 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ; vốn FDI thực hiện đạt 13,03 tỷ USD, cao nhất trong nửa đầu năm 5 năm qua. Tuy nhiên, điểm nghẽn của nền kinh tế đã dịch chuyển từ câu chuyện thiếu động lực tăng trưởng sang năng lực thực thi.

(Nguồn: Báo cáo chiến lược tháng 7 của SSI Research).

Để đạt mục tiêu tăng trưởng trên 10% theo Nghị quyết 168, tăng trưởng nửa cuối năm cần đạt khoảng 11,9%. Trong khi đó, giải ngân đầu tư công nửa đầu năm mới đạt 35,5% kế hoạch Thủ tướng giao. Theo báo cáo, phần tăng trưởng tăng thêm sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng đưa nguồn vốn đã phân bổ, dự án đã phê duyệt và nguồn lực sẵn có vào nền kinh tế thực.

(Nguồn: Báo cáo chiến lược tháng 7 của SSI Research).

SSI Research nhận định “van xả” của nền kinh tế hiện không nằm ở nới lỏng tiền tệ trên diện rộng, mà ở thực thi tài khóa. Đến cuối tháng 6, tín dụng tăng 7,41% từ đầu năm, trong khi tiền gửi tăng 5,02%, khiến khoảng cách tín dụng - tiền gửi nới rộng. Đầu tư công, vì vậy, không chỉ là động lực tăng trưởng GDP mà còn là cơ chế giúp dòng tiền luân chuyển trở lại hệ thống.

Các áp lực vĩ mô cũng khiến dư địa điều hành không còn rộng. CPI bình quân 6 tháng tăng 4,38% so với cùng kỳ, riêng quý II tăng 5,25%; lạm phát cơ bản bình quân ở mức 4,12%. Việt Nam ghi nhận nhập siêu hàng hóa 16,65 tỷ USD trong nửa đầu năm, nhưng báo cáo cho rằng đây chủ yếu là nhập khẩu phục vụ đầu tư, thay vì phản ánh sự suy yếu về năng lực cạnh tranh.

Hàm ý với nhà đầu tư là tăng trưởng cao chưa đồng nghĩa điều kiện tài chính sẽ nới lỏng nhanh. Cơ hội của Việt Nam vẫn mang tính cấu trúc, nhưng cần được kiểm chứng bằng khả năng chuyển hóa cải cách thành tăng trưởng và dòng vốn thực tế. Theo đó, năm 2026 là thời điểm để định vị, còn năm 2027 sẽ là thời điểm kiểm chứng.

“Cơ hội của Việt Nam vì thế vẫn mang tính cấu trúc. Dưới những biến động ngắn hạn, các nền tảng quan trọng của tăng trưởng vẫn đang dần được củng cố.”, báo cáo nêu.

Cơ hội chuyển sang nhóm hưởng lợi từ thực thi và dòng vốn

Trên thị trường cổ phiếu, dòng tiền vẫn chưa quay lại đồng đều. Thanh khoản tháng 6 suy yếu, với giá trị khớp lệnh bình quân mỗi phiên trên HOSE giảm còn khoảng 15.000 tỷ đồng, thấp hơn 32% so với tháng trước và là mức thấp nhất kể từ đầu năm. Khối ngoại bán ròng khoảng 15.300 tỷ đồng trong tháng 6, nâng tổng giá trị bán ròng 6 tháng đầu năm lên 80.300 tỷ đồng.

(Nguồn: Báo cáo chiến lược tháng 7 của SSI Research).

Dù vậy, báo cáo cho rằng thị trường đang ở trạng thái tìm kiếm tín hiệu xác nhận, thay vì chờ một chất xúc tác mới. Các yếu tố hỗ trợ gồm kỳ vọng đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, giá dầu giảm, định giá P/E dự phóng năm 2026 trên 10 lần và mùa công bố kết quả kinh doanh quý II.

Về lợi nhuận doanh nghiệp, động lực quý II được kỳ vọng duy trì ở các nhóm ngân hàng, bán lẻ, vật liệu xây dựng, cao su và thực phẩm - đồ uống. Ngược lại, các ngành liên quan hàng hóa cơ bản như phân bón và dầu khí trung nguồn có thể chịu áp lực trích lập dự phòng hàng tồn kho sau đợt điều chỉnh mạnh của giá dầu.

Kịch bản cần theo dõi là sự cộng hưởng của các yếu tố bất lợi trong và ngoài nước. Nếu xuất khẩu suy yếu, đầu tư công không cải thiện đáng kể và áp lực tỷ giá quay trở lại, tăng trưởng có thể thấp hơn kỳ vọng hiện nay. Dù vậy, rủi ro chính không phải là một cuộc khủng hoảng, mà là giai đoạn tăng trưởng chậm hơn dự kiến, đi kèm chi phí chính sách cao hơn và dư địa điều hành hạn chế hơn.

Thống kê lịch sử cũng cho thấy thanh khoản trong tháng 7 thường thấp hơn mức bình quân cả năm, cho thấy điều kiện giao dịch tương đối trầm lắng. Yếu tố mùa vụ đang tạo nền tảng thuận lợi, khi dữ liệu lịch sử cho thấy thị trường ghi nhận lợi suất dương trong tháng 7 ở gần 70% số năm kể từ 2011. Dù vậy, áp lực chốt lời sau mùa công bố kết quả kinh doanh có thể khiến biến động ngắn hạn gia tăng trong tháng.

(Nguồn: Báo cáo chiến lược tháng 7 của SSI Research).

Trong bối cảnh đó, SSI Research duy trì quan điểm thị trường đi ngang. Chiến lược được ưu tiên là mua khi điều chỉnh và bán khi tăng mạnh, nhất là trong mùa cao điểm công bố kết quả kinh doanh, trừ khi xuất hiện hỗ trợ chính sách rõ hơn ở phía huy động vốn.

Với nhà đầu tư, cơ hội được nhìn nhận ở khả năng định vị sớm, trước khi các cải cách chuyển hóa giá trị tiềm ẩn thành cơ hội có thể đầu tư. Hàm ý đầu tư được quy về ba nhóm chính.

Nhóm thứ nhất là các lĩnh vực hưởng lợi trực tiếp từ quá trình thực thi chính sách, gồm khu công nghiệp, logistics, nhà thầu hạ tầng và vật liệu xây dựng có sức mạnh định giá. Đây là nhóm gắn với tiến độ giải ngân, triển khai dự án và nhu cầu mở rộng năng lực sản xuất.

Nhóm thứ hai là các doanh nghiệp hưởng lợi từ nguồn vốn, gồm ngân hàng có nền tảng tiền gửi vững chắc, công ty chứng khoán, công ty quản lý tài sản và hạ tầng thị trường vốn. Trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn tiền gửi và chi phí vốn khó giảm mạnh, chất lượng nguồn vốn trở thành yếu tố phân hóa quan trọng hơn.

Nhóm thứ ba là các doanh nghiệp hưởng lợi từ chương trình nâng chất lượng thị trường, đặc biệt là những doanh nghiệp có tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng cải thiện, quản trị được nâng cấp một cách đáng tin cậy, chính sách vốn thân thiện hơn với cổ đông, tiềm năng thoái vốn Nhà nước và mức độ liên quan cao hơn đến dòng vốn thụ động.

CÙNG CHUYÊN MỤC