Lãnh đạo UBCKNN: Việt Nam có thể triển khai quyền chọn chỉ số từ 2027

Các chuyên gia đã đề xuất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn dài hạn, từ hoàn thiện khung chính sách, phát triển sản phẩm đầu tư, cải thiện thanh khoản đến nâng cao chất lượng hàng hóa và cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.

Ưu tiên phát triển sản phẩm tạo thanh khoản

Phát biểu tại hội thảo "Tái cấu trúc các kênh dẫn vốn" của Báo Tài chính - Đầu tư, ông Trịnh Hoài Giang, Tổng Giám đốc CTCP Chứng khoán TP HCM (HSC - Mã: HCM), cho rằng việc phát triển thị trường không nên chỉ tập trung vào số lượng sản phẩm mà cần ưu tiên những sản phẩm có khả năng tạo thanh khoản và tăng độ sâu.

Theo số liệu ông Giang dẫn tại hội thảo, giao dịch chứng chỉ quỹ ETF tại Việt Nam hiện chiếm chưa tới 1-2% tổng giá trị giao dịch toàn thị trường, trong khi tại Hàn Quốc có thể đạt khoảng 20-30%.

Từ mức chênh lệch này, ông cho rằng Việt Nam còn nhiều việc phải làm để cải thiện sản phẩm ETF, từ hệ thống chỉ số, hạ tầng giao dịch đến khả năng tiếp cận của nhà đầu tư.

Đối với thị trường phái sinh, nhiều tổ chức nước ngoài đặc biệt quan tâm đến các công cụ phòng ngừa rủi ro. Tuy nhiên, để thu hút nhà đầu tư tổ chức quốc tế, hệ thống cần tiếp tục hoàn thiện kết nối, dữ liệu, mẫu hợp đồng, tham số thanh toán, ký quỹ và cơ chế quản trị rủi ro.

“Flow attracts flow, tức dòng tiền sẽ thu hút thêm dòng tiền. Khi thị trường phái sinh sôi động hơn, thị trường cơ sở cũng sẽ sôi động hơn và có khả năng phòng vệ tốt hơn”, ông Giang nhận định.

Theo ông, thị trường phái sinh giúp nhà đầu tư có thêm công cụ phòng ngừa rủi ro khi thị trường cơ sở biến động.

Đối với chứng quyền có bảo đảm, cơ chế vận hành chưa có nhiều thay đổi kể từ khi sản phẩm được triển khai. Các công ty chứng khoán đã đề xuất đơn giản hóa thủ tục phát hành để tăng số lượng và quy mô sản phẩm.

Hiện chứng quyền chủ yếu được phát hành dựa trên từng cổ phiếu. Thị trường cũng có thể nghiên cứu quyền chọn chỉ số cổ phiếu nhằm bổ sung công cụ đầu tư và phòng vệ mới.

Ông Giang đề xuất xây dựng danh mục công việc cụ thể cho từng giai đoạn, từ sản phẩm, hạ tầng đến chính sách và hoạt động sau giao dịch. Trong đó, cần xác định những việc có thể triển khai ngay như đơn giản hóa thủ tục phát hành chứng quyền và cải thiện cơ chế vận hành ETF.

Các sở giao dịch, Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam cùng các thành viên thị trường cần phối hợp trong khâu giao dịch, thanh toán và quản trị rủi ro.

Theo ông Giang, nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt quan tâm đến khả năng kiểm soát rủi ro hệ thống. Nếu hạ tầng còn yếu, một sự cố trong thanh toán hoặc bù trừ có thể ảnh hưởng tới toàn thị trường.

“Nguồn lực của chúng ta không đủ để làm tất cả mọi thứ cùng lúc, thị trường cũng chưa có đủ thanh khoản để hỗ trợ quá nhiều sản phẩm. Vì vậy, cần tập trung vào những sản phẩm có tiềm năng phát triển và khả năng tạo thanh khoản cao”, ông Giang nói.

Ông Trịnh Hoài Giang, Tổng Giám đốc CTCP Chứng khoán TP HCM, phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: Báo Tài chính - Đầu tư)

Mở rộng hệ sinh thái ETF và phái sinh

Bổ sung từ góc độ cơ quan quản lý, ông Bùi Hoàng Hải, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, cho biết ETF đang phát triển mạnh tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc. Việt Nam cũng đang đi theo định hướng mở rộng nhóm sản phẩm này.

Một trong những điều kiện để phát triển ETF là đa dạng hóa hệ thống chỉ số. Cơ quan quản lý đã xây dựng cơ chế tương đối linh hoạt trong việc quản trị và cung cấp chỉ số thị trường.

Các công ty quản lý quỹ và nhà đầu tư có thể đề xuất xây dựng chỉ số, sau đó trình Sở Giao dịch Chứng khoán TP HCM và Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam xem xét, chấp thuận.

Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam (VNX) đang làm việc với FTSE để phối hợp cung cấp và quản trị các chỉ số mới. Sau khi hoàn tất thỏa thuận, thị trường có thể có thêm các chỉ số làm tài sản tham chiếu cho ETF.

Cơ quan quản lý cũng sẽ nghiên cứu các loại hình ETF đã phổ biến trên thế giới nhưng Việt Nam chưa triển khai, trên cơ sở đề xuất của các công ty quản lý quỹ.

Đối với ETF vàng, ông Hải cho biết sản phẩm này còn gặp nhiều vướng mắc do liên quan đến cơ chế quản lý vàng và ngoại hối của Ngân hàng Nhà nước.

Các vấn đề cần làm rõ gồm việc chuyển ngoại tệ ra nước ngoài để mua chứng chỉ vàng, yêu cầu nhập vàng vật chất về Việt Nam hoặc khả năng phát triển sản phẩm dựa trên hợp đồng tương lai vàng.

Theo ông Hải, mỗi sản phẩm có mức độ phức tạp khác nhau nên cần được nghiên cứu và triển khai từng bước. Ngay cả khi cơ quan quản lý và hệ thống kỹ thuật đã sẵn sàng, nhà đầu tư có thể vẫn chưa hiểu đầy đủ về đặc điểm và rủi ro của sản phẩm.

Đối với quyền chọn chỉ số, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đang sửa đổi Thông tư 58 về thị trường chứng khoán phái sinh. Kế hoạch là hoàn thành việc sửa đổi trong năm 2026 và dự kiến văn bản có hiệu lực trong năm 2027.

Sau khi có cơ sở pháp lý, các sở giao dịch và Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam (VSDC) phải tiếp tục ban hành quy chế vận hành, bù trừ và thanh toán.

Sản phẩm cũng cần được kiểm thử giữa VSDC, VNX, HNX và các thành viên thị trường. Quá trình này có thể cần thêm thời gian trước khi sản phẩm được đưa vào giao dịch chính thức.

Theo ông Hải, hệ thống công nghệ KRX đã có khả năng hỗ trợ quyền chọn chỉ số. Vấn đề còn lại là hoàn thiện quy định và kiểm thử cơ chế vận hành, bù trừ và thanh toán trên thực tế.

Nếu việc sửa đổi quy định và kiểm thử được hoàn thành theo kế hoạch, sản phẩm quyền chọn chỉ số có thể được triển khai trong năm 2027.

Ông Bùi Hoàng Hải, Phó Chủ tịch UBCKNN, phát biểu tại hội nghị. (Ảnh: Báo Tài chính - Đầu tư)

CÙNG CHUYÊN MỤC