TS. Cấn Văn Lực: Nền kinh tế chỉ dựa vào vốn tín dụng rất rủi ro, cần tăng vốn từ chứng khoán thêm 1,5 - 1,7 lần

Theo TS. Cấn Văn Lực, với tốc độ như hiện nay tỷ lệ tín dụng/GDP có thể lên tới 180% vào năm 2030, tín hiệu được xem là rất rủi ro. Vì vậy, giải pháp cần phải gia tăng sự đóng góp của thị trường chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư) lên gấp 1,5 đến 1,7 lần, tức đóng góp khoảng 25 - 27% thì mới đảm bảo cân bằng và bền vững.

Phát biểu tại Hội thảo "Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn" doTạp chí Nhà đầu tư tổ chức sáng 23/7, TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách của Thủ tướng Chính phủ, chỉ ra rằng nền kinh tế đang rất cần vốn. 

"Ở những thời điểm tăng trưởng kinh tế ở mức cao, nhu cầu vốn cũng phải tăng trưởng khoảng 12 - 13% thì mới đủ cung ứng". 

Theo ước tính của TS. Cấn Văn Lực và Viện Nghiên cứu Kinh tế (NC KT) BIDV, để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số trong các năm tiếp theo. Giai đoạn từ nay đến 2030, Việt Nam cần đạt tốc độ tăng trưởng vốn khoảng 13%, sau đó giai đoạn 2031 - 2045 khoảng 10%.

Phân tích kỹ hơn về thị trường vốn, TS. Lực chỉ ra một thực tế rằng, nền kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào vốn tín dụng. Đồng thời, ông cũng cảnh báo, với tốc độ tăng trưởng GDP chỉ khoảng 10% và tín dụng 15 -16% như hiện nay, đến năm 2030, tỷ lệ vốn tín dụng/GDP có thể lên đến 180% - mức rất cao.

Theo tính toán của ông và nhóm Viện NCKT BIDV (không theo cách tính của Cục Thống kê), hiện vốn tín dụng vẫn chiếm 50 - 51% toàn bộ vốn cung ứng cho nền kinh tế.

 

Trong khi đó, thị trường cổ phiếu đóng góp còn tương đối khiêm tốn, mặc dù, 6 tháng đầu năm có tích cực nhưng cũng chỉ đóng góp khoảng 6,4%. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp chiếm khoảng 7% trong 6 tháng đầu năm nay.

Còn lại, vốn đầu tư công chiếm khoảng 12 - 15%. Vốn FDI, đóng góp ở mức khoảng 12%. Với khu vực tư nhân, TS. Lực cho biết, mỗi năm có gần 200.000 doanh nghiệp mới thành lập, đăng ký vốn điều lệ, tuy nhiên theo ước tính của chuyên gia, nhóm doanh nghiệp này sẽ bỏ ra khoảng 10% vốn thực góp, tính ra kênh này đóng góp gần 10% tổng vốn trong 6 tháng đầu năm nay.

 

Việc phụ thuộc vào vốn tín dụng khiến kênh này đã gần tới hạn về tỷ lệ đòn bẩy. "Nếu cứ tăng trưởng với tốc độ như hiện nay, đến năm 2030 tỷ lệ tín dụng trên GDP có thể lên tới 180%, trong khi hiện nay là trên 143% đã ở mức khá rủi ro", TS. Lực nhấn mạnh.

Trong vòng 15 năm vừa qua, tổng tài sản của hệ thống ngân hàng tăng trưởng khoảng 15%/năm, trong khi thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư còn nhiều dư địa nhưng chưa phát triển tương xứng.

"Trái phiếu chỉ tăng trưởng 7,5% trong suốt 15 năm vừa qua. Chúng tôi đã kiến nghị Chính phủ phải tăng mức đóng góp của thị trường chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư) lên gấp 1,5 đến 1,7 lần, tức đóng góp khoảng 25 - 27% thì mới đảm bảo cân bằng và bền vững hơn", ông Lực nói.

Số liệu này không tính trái phiếu Chính phủ riêng lẻ vì đã gộp vào số liệu đầu tư công – con số cuối cùng sau khi giải ngân từ các nguồn như trái phiếu, vay nước ngoài, viện trợ. Đầu tư công còn khả năng mở rộng, song hiệu quả sử dụng vốn cần được cải thiện khi quy mô đầu tư ngày càng lớn, TS Lực lưu ý.

Theo chuyên gia, thực tế này đặt ra yêu cầu phải tái cấu trúc hệ thống tài chính và các kênh dẫn vốn theo hướng cân bằng hơn. Thị trường vốn phải phát triển nhanh hơn để đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn và giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.

 

Một vấn đề nữa là câu chuyện tiết kiệm so với đầu tư tại Việt Nam. Dẫn số liệu do Viện NCKT BIDV đưa ra, TS. Lực chỉ ra rằng, hiện tại tỷ lệ đầu tư tương đương khoảng 31% GDP, tính đến cuối năm 2025 trong trong khi tiết kiệm của dân cư ở mức khoảng 35% GDP.

So sánh với Trung Quốc thời kỳ tăng trưởng cao, tiết kiệm của họ rất lớn và luôn cao hơn đầu tư. Việt Nam cũng có điểm tương đồng này và tỷ lệ tiết kiệm 35% là mức rất tích cực so với các nước ASEAN khác. Điều này chứng tỏ Việt Nam "có tiền" trong dân.

"Đây là tín hiệu tốt, nghĩa là chúng ta vẫn còn dư khoảng 5% GDP tiền tiết kiệm trong dân chưa huy động được", ông nói và đề xuất cần thúc đẩy huy động tiền tiết kiệm trong dân để đầu tư, kinh doanh.

5 thách thức của thị trường chứng khoán

TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách của Thủ tướng Chính phủ. (Ảnh: BTC).

Đánh giá về thị trường chứng khoán, TS. Cấn Văn Lực chỉ ra năm nhóm rủi ro, thách thức lớn, gồm mức độ biến động cao; dòng tiền và vốn hóa tập trung vào một số ngành, doanh nghiệp lớn; tỷ trọng nhà đầu tư cá nhân cao, tâm lý đám đông mạnh; tính minh bạch, chuyên nghiệp còn hạn chế; sản phẩm và cơ cấu nhà đầu tư chưa đa dạng.

Đáng chú ý, dư nợ cho vay ký quỹ tại các công ty chứng khoán đã tăng từ khoảng 125.000 tỷ đồng cuối quý I/2023 lên 445.000 tỷ đồng vào cuối quý II/2026, tương đương mức tăng hơn 3,5 lần.

“Nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính ngày càng lớn, tiềm ẩn rủi ro đáng kể, nhất là khi thị trường đảo chiều”, ông Lực cảnh báo.

Bên cạnh đó, thị trường còn đối mặt với rủi ro an ninh mạng, an toàn thông tin, dữ liệu và tội phạm tài chính gia tăng. Hệ thống công nghệ, nền tảng số, cơ sở dữ liệu, xếp hạng tín nhiệm và chế độ báo cáo tài chính vẫn còn nhiều bất cập.

Theo TS. Cấn Văn Lực, điểm nghẽn quan trọng nằm ở thể chế thị trường tài chính chưa thực sự đồng bộ. Khung pháp lý đối với các mô hình kinh doanh và sản phẩm tài chính mới còn chậm được ban hành; sở hữu chéo dù đã giảm nhưng vẫn phức tạp; rủi ro liên thông giữa hệ thống tài chính và bất động sản cần được giám sát chặt chẽ hơn.

Ông kiến nghị ban hành một chương trình tổng thể về cải cách và phát triển thị trường tài chính, thống nhất các chiến lược đối với ngân hàng, chứng khoán, trái phiếu, bảo hiểm, tài chính số và tài chính xanh.

Thị trường cũng cần đa dạng hóa các định chế tài chính như quỹ hưu trí, quỹ đầu tư dài hạn, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ tín thác bất động sản và các tổ chức tài chính phi ngân hàng; đồng thời phát triển thị trường phái sinh, tài chính xanh, tài chính số, thị trường carbon và tài sản mã hóa theo lộ trình phù hợp.

Cùng với đó, cần hoàn thiện cơ chế phá sản, xử lý nợ và xử lý các tổ chức tài chính yếu kém; xây dựng cơ sở dữ liệu tài chính quốc gia và hệ thống cảnh báo sớm; chuyển từ tiền kiểm hành chính sang quản lý, giám sát dựa trên rủi ro, công nghệ và dữ liệu.