Chuyên gia quốc tế nhận định trung tâm tài chính quốc tế mở cơ hội hút vốn ngoại vào Việt Nam và chỉ ra những lĩnh vực là tâm điểm giải ngân

Tại sự kiện mới đây cho Chứng khoán SSI tổ chức, các chuyên gia quốc tế cho rằng Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam (VIFC) có thể trở thành cầu nối quan trọng giúp Việt Nam tiếp cận dòng vốn toàn cầu, song cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao năng lực hấp thụ vốn của doanh nghiệp.

Phiên 3 tại sự kiện Vietnam Global Capital Access: Overseas Listings, DRs and the IFC do CTCP Chứng khoán SSI tổ chức. Ảnh: SSI

Tại sự kiện Vietnam Global Capital Access: Overseas Listings, DRs and the IFC do CTCP Chứng khoán SSI tổ chức sáng 18/6, phiên thảo luận thứ 3 với chủ đề "Doanh nghiệp Việt Nam có thể nâng cao khả năng tiếp cận vốn toàn cầu thông qua Trung tâm Tài chính Quốc tế (IFC) như thế nào?" đã thu hút sự quan tâm lớn từ giới đầu tư trong và ngoài nước.

Phiên thảo luận do bà Hoàng Việt Phương, Tổng Giám đốc S&I Ratings điều phối, với sự tham gia của các diễn giả gồm: Cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Marc Knapper; ông Colin Mullins, Tổng Giám đốc điều hành Công ty Quản lý quỹ Vantage Point; ông Richard D. McClellan, Giám đốc điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam (VIFC) tại TP HCM; bà Hằng Vũ, Chủ tịch HĐQT kiêm Đối tác điều hành Minh Triết Capital.

Dưới đây là phần tường thuật phiên thảo luận trên.

Bà Hoàng Việt Phương: Những biến động địa chính trị gần đây đang tác động đến dòng vốn toàn cầu, đặc biệt là các trung tâm tài chính ở Trung Đông như Dubai và Abu Dhabi. Theo ông, nếu tình hình ổn định trở lại, các trung tâm này có nhanh chóng phục hồi vị thế hay không? Và trong trường hợp dòng vốn tiếp tục dịch chuyển, những trung tâm tài chính nào tại châu Á có thể hưởng lợi?

Bà Hoàng Việt Phương, Tổng Giám đốc S&I Ratings. Ảnh: SSI

Ông Marc Knapper: Tình hình Trung Đông vẫn diễn biến khó lường nên rất khó đưa ra dự báo chắc chắn. Tuy nhiên, Dubai và Abu Dhabi đều là những trung tâm tài chính có nền tảng vững chắc và hệ sinh thái phát triển, vì vậy nếu hòa bình được duy trì, dòng vốn nhiều khả năng sẽ quay trở lại trong dài hạn.

Dù vậy, các nhà đầu tư luôn không thích sự bất định và có xu hướng đa dạng hóa danh mục khi bất ổn gia tăng. Trong bối cảnh đó, bên cạnh những trung tâm tài chính lớn như Hong Kong và Singapore, Việt Nam cũng đang có cơ hội đáng kể.

Khi Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam (VIFC) hoàn thiện khung pháp lý và đi vào hoạt động, Việt Nam có thể trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn quốc tế đang tìm kiếm môi trường ổn định cùng tiềm năng sinh lời dài hạn.

Bà Hoàng Việt Phương: Thưa ông Colin Mullins, nhiều quỹ hiện vẫn lựa chọn đầu tư vào Việt Nam thông qua các trung tâm tài chính như Hong Kong hay Singapore. Theo ông, đâu là một hoặc hai điều kiện quan trọng nhất để Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam (VIFC) có thể thu hút dòng vốn nước ngoài trực tiếp?

Ông Colin Mullins: Năm ngoái, khi chúng tôi đưa các doanh nghiệp Việt Nam sang Úc gặp gỡ 24 tổ chức đầu tư lớn, hầu hết đều đánh giá cao tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam và sẵn sàng rót vốn.

Tuy nhiên, câu hỏi chung họ đặt ra là: "Làm thế nào để chúng tôi có thể rút vốn khỏi Việt Nam khi cần?" Đó là lý do tôi cho rằng vai trò của Trung tâm Tài chính Quốc tế là rất quan trọng.

Khi quay lại gặp các nhà đầu tư này vào tháng 3 năm nay, phản hồi đã tích cực hơn đáng kể. Họ nhận thấy Việt Nam đang nghiêm túc triển khai kế hoạch xây dựng VIFC và coi đây là tín hiệu tích cực. Theo tôi, việc có đơn vị tư vấn quốc tế tham gia xây dựng trung tâm tài chính là một bước tiến quan trọng.

Dù vẫn còn nhiều việc phải làm, thị trường hiện có rất nhiều nguồn vốn sẵn sàng đầu tư. Điều các nhà đầu tư cần là một cơ chế phù hợp, bảo đảm khả năng đầu tư hiệu quả và rút vốn thuận lợi khi cần thiết.

Ông Colin Mullins, Tổng Giám đốc điều hành Công ty Quản lý quỹ Vantage Point. Ảnh: SSI

Bà Hoàng Việt Phương: Khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã có nhiều trung tâm tài chính phát triển như Hong Kong, Singapore, Thượng Hải hay Tokyo. Theo ông, Việt Nam có thể tạo sự khác biệt như thế nào? Và với việc VIFC ra đời muộn hơn, liệu có cần những lợi thế hay cơ chế đặc biệt để thu hút nhà đầu tư?

Ông Richard D. McClellan: Sau gần bốn năm tham gia dự án, tôi cho rằng giá trị lớn nhất của VIFC chính là Việt Nam. Mỗi trung tâm tài chính được hình thành với một mục tiêu khác nhau. London được xây dựng để đưa vốn ra nước ngoài đầu tư, New York để thu hút vốn vào một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, còn Dubai đóng vai trò trung chuyển dòng vốn.

Theo tôi, Việt Nam hiện nay giống New York thế kỷ XIX hơn, bởi đang sở hữu tiềm năng tăng trưởng rất lớn và cần thu hút thêm nguồn vốn quốc tế để khai thác cơ hội đó. Vì vậy, VIFC không nhất thiết phải cạnh tranh trực tiếp với Singapore hay Hong Kong.

Cơ hội của Việt Nam là khác biệt. Nếu có một đối thủ tương đồng hơn, đó có thể là GIFT City của Ấn Độ, nơi cũng đang tìm cách thu hút dòng vốn toàn cầu phục vụ tăng trưởng.

Bên cạnh đó, việc xây dựng một trung tâm tài chính từ đầu cũng là lợi thế. Việt Nam có cơ hội thiết kế các cơ chế và mô hình vận hành phù hợp với nền kinh tế mới, đồng thời tích hợp ngay từ đầu các xu hướng như AI, blockchain và tài sản số để tạo lợi thế cạnh tranh trong tương lai.

Ông Richard D. McClellan, Giám đốc điều hành Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam (VIFC) tại TP HCM. Ảnh: SSI

Bà Hoàng Việt Phương: Như ông Colin Mullins đã chia sẻ, nhà đầu tư nước ngoài rất quan tâm đến Việt Nam, nhưng vấn đề lớn là làm thế nào để dòng vốn có thể được rút ra thuận lợi khi cần thiết. Hiện nay, các cơ quan chức năng đang xây dựng khuôn khổ pháp lý theo tiêu chuẩn quốc tế. Ông đánh giá như thế nào về việc giải quyết yêu cầu này?

Ông Richard D. McClellan: Có một sự đồng thuận mạnh mẽ về việc tạo ra lợi thế cho Trung tâm Tài chính Quốc tế thông qua cơ chế cho phép dòng vốn ra vào thuận lợi giữa nền kinh tế trong nước và thị trường quốc tế. Mọi người đều thống nhất rằng mục tiêu của dự án là tạo ra một kênh dẫn vốn toàn cầu vào Việt Nam.

Đồng thời, tất cả đều hiểu rằng dòng vốn quốc tế sẽ không vào nếu không thể rút ra một cách dễ dàng. Vấn đề hiện nay là phải xác định những cơ chế cụ thể nào có thể giúp điều đó trở thành hiện thực trong bối cảnh quản lý dòng vốn hiện nay. Chúng tôi đang tiếp tục làm việc để hoàn thiện các chi tiết đó.

Bà Hoàng Việt Phương: Khi các nhà đầu tư toàn cầu nhìn vào Việt Nam, họ thường đặt câu hỏi liệu các doanh nghiệp trong nước đã sẵn sàng để nhận vốn đầu tư hay chưa. Theo bà, doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị những gì, từ quản trị doanh nghiệp, minh bạch thông tin, năng lực số hóa cho đến áp dụng các chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế, để có thể đáp ứng yêu cầu của các nhà cung cấp vốn toàn cầu?

Bà Hằng Vũ: Đây cũng là công việc mà chúng tôi thực hiện mỗi ngày, đó là kết nối doanh nghiệp trong nước với các nguồn vốn quốc tế. Từ góc độ sẵn sàng tiếp nhận vốn đầu tư, các nhà đầu tư toàn cầu đang ngày càng quan tâm đến Việt Nam. Dòng vốn đang phục hồi và tiếp tục tăng trưởng.

Để đưa ra một con số cụ thể, trong năm vừa qua, tổng lượng vốn tư nhân đầu tư vào Việt Nam đạt khoảng 4,5 tỷ USD thông qua khoảng 150 giao dịch đầu tư thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Điều đó cho thấy sự phục hồi và tăng trưởng khá tích cực của thị trường.

Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp Việt Nam cũng cần thêm nguồn vốn để mở rộng quy mô, chuyển đổi hoạt động và phát triển kinh doanh. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi, không nhiều doanh nghiệp thực sự sẵn sàng để tiếp nhận vốn đầu tư.

Trong quá trình làm việc hằng ngày với doanh nghiệp và cố gắng thu hẹp khoảng cách với các nhà đầu tư quốc tế, chúng tôi nhận thấy các doanh nghiệp trong nước vốn quen với hình thức vay ngân hàng. Họ sử dụng tài sản bảo đảm để vay vốn và không nhất thiết phải có hệ thống báo cáo tài chính, quản trị doanh nghiệp hay năng lực lãnh đạo đáp ứng tiêu chuẩn mà các nhà đầu tư quốc tế yêu cầu.

Đó là cách tiếp cận vốn nhanh chóng, nhưng hiện nay bối cảnh đã thay đổi. Nhiều doanh nghiệp bắt đầu nhận thấy những hạn chế của thị trường vốn trong nước, đặc biệt là nguồn vốn tín dụng ngân hàng, và cần tìm kiếm các nguồn tài trợ thay thế.

Lấy ví dụ trong lĩnh vực bất động sản. Trước đây, các chủ đầu tư có thể sử dụng quyền sử dụng đất làm tài sản bảo đảm để vay vốn ngân hàng, sau đó bán sản phẩm và dùng nguồn thu để trả nợ. Ngân hàng thường không yêu cầu quá nhiều tài liệu hay quy trình phức tạp, miễn là khoản vay có thể được hoàn trả.

Tuy nhiên, với các quy định mới hiện nay, không nhiều doanh nghiệp bất động sản còn có thể tiếp cận nguồn vốn như trước. Chỉ một số doanh nghiệp lớn vẫn duy trì được khả năng tiếp cận các khoản tài trợ quy mô lớn từ ngân hàng.

Tôi cho rằng nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa quen với yêu cầu phải xây dựng đầy đủ hồ sơ dữ liệu phục vụ thẩm định, chưa có hệ thống pháp lý và tài chính minh bạch hoặc chưa đầu tư đúng mức cho năng lực lãnh đạo và quản trị doanh nghiệp.

Đặc biệt, rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn vận hành theo mô hình gia đình hoặc phụ thuộc lớn vào nhà sáng lập. Ngay cả các nhà quản lý chuyên nghiệp được tuyển dụng cũng thường có thẩm quyền hạn chế.

Điều đó khiến không ít doanh nghiệp gặp khó khăn ngay từ những vòng thẩm định đầu tiên của nhà đầu tư. Đây là quá trình cần thêm thời gian để cải thiện.

Tuy nhiên, tín hiệu tích cực là các quỹ đầu tư mạo hiểm (VC) và quỹ đầu tư tư nhân (PE) hiện nay không chỉ mang vốn vào Việt Nam mà còn hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực quản trị, phát triển đội ngũ lãnh đạo và thúc đẩy ứng dụng công nghệ nhằm giúp doanh nghiệp trở nên hấp dẫn hơn trong mắt nhà đầu tư toàn cầu.

Dù vậy, quá trình này vẫn cần thời gian. Chúng tôi thường nói với nhau rằng đôi khi việc thu hẹp khoảng cách giữa doanh nghiệp trong nước và nhà đầu tư quốc tế khó khăn hơn dự kiến. Nhiều doanh nghiệp muốn có vốn ngay trong vòng một hoặc hai tháng.

Tuy nhiên, nếu chưa chuẩn bị đầy đủ các yêu cầu cần thiết thì rất khó để huy động được nguồn vốn trong khoảng thời gian ngắn như vậy.

Bà Hoàng Việt Phương: VIFC chỉ có thể phát triển bền vững nếu kết nối hiệu quả với nền kinh tế thực. Từ kinh nghiệm làm việc với các doanh nghiệp Việt Nam, theo bà, những lĩnh vực nào sẽ thu hút sự quan tâm lớn nhất của nhà đầu tư trong thời gian tới?

Bà Hằng Vũ: Tôi nhìn vấn đề từ hai góc độ: những lĩnh vực đang thu hút vốn hiện nay và những lĩnh vực có tiềm năng lớn trong giai đoạn tăng trưởng tiếp theo của Việt Nam. Hiện tại, dòng vốn đang được phân bổ khá rộng.

Dịch vụ tài chính hưởng lợi từ sự gia tăng của tầng lớp trung lưu và nhu cầu đối với các sản phẩm tài chính ngày càng đa dạng. Tiêu dùng, bán lẻ và y tế cũng thu hút nhiều vốn đầu tư nhờ quy mô dân số hơn 100 triệu người và mức sống ngày càng cải thiện. Bất động sản vẫn nhận được sự quan tâm nhưng việc cấp vốn đang trở nên chọn lọc hơn.

Bên cạnh đó, nông nghiệp, đặc biệt là các hoạt động chế biến, xây dựng thương hiệu và xuất khẩu, cũng đang thu hút nhiều nhà đầu tư.

Trong giai đoạn phát triển tiếp theo, tôi cho rằng hạ tầng sẽ là lĩnh vực nổi bật nhất khi Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh đầu tư cho các dự án quy mô lớn. Sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính, nhiều địa phương cũng đang xây dựng chiến lược phát triển mới và chủ động giới thiệu các cơ hội đầu tư lớn tới nhà đầu tư quốc tế.

Các lĩnh vực được nhiều địa phương ưu tiên hiện nay gồm sản xuất công nghệ cao, nông nghiệp, năng lượng tái tạo, hạ tầng và logistics. Đây cũng là những ngành nhận được sự quan tâm lớn từ các nhà đầu tư chiến lược.

Ngoài các dự án riêng lẻ, một xu hướng đáng chú ý là đầu tư theo hệ sinh thái, chẳng hạn các khu thương mại tự do hay các tổ hợp kinh tế tích hợp. Khu vực xung quanh sân bay Long Thành là một ví dụ, với định hướng phát triển đồng bộ khu công nghiệp, công nghệ cao, logistics, thương mại và khu dân cư.

Bên cạnh đó, trong hệ sinh thái VIFC cũng đang hình thành những lĩnh vực mới như tài chính hàng không, fintech và Trung tâm Tài chính Hàng hải Quốc tế. Riêng hàng hải là lĩnh vực rất tiềm năng nhờ vị trí chiến lược của Việt Nam trên các tuyến thương mại quan trọng của khu vực.

Đây có thể trở thành kênh thu hút các doanh nghiệp và định chế tài chính quốc tế tham gia vào các dự án phát triển quy mô lớn của Việt Nam trong thập kỷ tới.

Bà Hằng Vũ, Chủ tịch HĐQT kiêm Đối tác điều hành Minh Triết Capital. Ảnh: SSI

Bà Hoàng Việt Phương: Thưa ông Colin Mullins và Đại sứ Knapper, những lĩnh vực nào đang nhận được sự quan tâm lớn nhất từ các nhà đầu tư quốc tế?

Ông Colin Mullins: Hiện nay, năng lượng là lĩnh vực ưu tiên hàng đầu của chúng tôi. Bên cạnh đó là nông nghiệp và đặc biệt là hạ tầng phục vụ VIFC. Nhiều nhà đầu tư quốc tế quan tâm không chỉ đến các dự án riêng lẻ mà còn đến cơ hội tham gia xây dựng chính hệ sinh thái của một trung tâm tài chính quốc tế mới. Theo chúng tôi, đầu tư vào hạ tầng VIFC đang là một trong những chủ đề thu hút sự chú ý lớn.

Ông Marc Knapper: Qua trao đổi với các nhà đầu tư Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan, tôi thấy công nghệ cao và bán dẫn vẫn là những lĩnh vực được quan tâm nhất. Tuy nhiên, nhà đầu tư không chỉ nhìn vào ngành nghề mà còn đánh giá toàn bộ hệ sinh thái hỗ trợ, bao gồm năng lượng ổn định, đặc biệt là năng lượng tái tạo, nguồn nước sạch, bảo hộ sở hữu trí tuệ, nhân lực chất lượng cao và hạ tầng công nghệ hiện đại như 5G, 6G hay cáp quang biển. Tôi cho rằng Việt Nam đang đi đúng hướng trong việc xây dựng những nền tảng này.

Bà Hoàng Việt Phương: Ông Colin Mullins vừa nhắc đến hạ tầng VIFC. Ông có thể chia sẻ thêm về những gì đang được triển khai và kế hoạch trong giai đoạn tới? Ông thường nhắc đến khái niệm "T+1", vậy hiện nay dự án đang ở đâu?

Ông Richard D. McClellan: Đây là dự án có tầm nhìn 10 năm, không phải 2 năm. Năm ngoái là giai đoạn T-1, tập trung xây dựng nền tảng pháp lý. Năm nay là T+0, chuẩn bị để trung tâm có thể vận hành thực tế.

Hiện chúng tôi đang thiết kế cơ cấu tổ chức và xây dựng các bộ quy định đầu tiên. Một trung tâm tài chính quốc tế hoàn chỉnh cần khoảng 30 bộ quy tắc và quy định riêng biệt, vì vậy đây sẽ là quá trình phát triển từng bước.

Song song với việc xác định các lĩnh vực chiến lược như tài chính hàng hải hay các hệ sinh thái chuyên ngành, chúng tôi cũng phải lựa chọn những sản phẩm tài chính có thể triển khai trước để xây dựng uy tín và tạo nền tảng phát triển lâu dài.

Các ưu tiên ban đầu sẽ là những lĩnh vực có nhu cầu rõ ràng, cơ chế quản lý tương đối đơn giản và phù hợp với lợi thế của Việt Nam. Trong đó gồm quỹ đầu tư, trái phiếu doanh nghiệp – đặc biệt là trái phiếu xanh, hàng hóa cơ bản (commodities) và các quỹ đầu tư bất động sản (REITs).

Bà Hoàng Việt Phương: Như vậy, ưu tiên trước mắt là xây dựng hạ tầng tài chính?

Ông Richard D. McClellan: Đúng vậy. Việt Nam đang ở một thời điểm đặc biệt với tốc độ thay đổi rất nhanh. Trong bối cảnh thế giới nhiều biến động, dòng vốn toàn cầu thường tìm đến những thị trường ổn định, tăng trưởng và trung lập, và Việt Nam đang hội tụ cả ba yếu tố đó.

Vai trò của VIFC là xây dựng cơ chế kết nối cơ hội tăng trưởng của Việt Nam với dòng vốn quốc tế theo cách mà các nhà đầu tư toàn cầu mong muốn.

Bà Hoàng Việt Phương: VIFC đặt mục tiêu phát triển Trung tâm Tài chính Hàng hải Quốc tế (IMFC) và từng bước đưa các hoạt động tài chính hàng hải đang diễn ra tại Singapore hay Hong Kong về Việt Nam. Theo bà Hằng Vũ, đây có phải là mục tiêu quá tham vọng?

Bà Hằng Vũ: Đây là mục tiêu rất tham vọng, nhưng cũng là mục tiêu cần thiết. Năm ngoái, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt khoảng 930 tỷ USD và có thể vượt 1.000 tỷ USD trong năm nay.

Tuy nhiên, Việt Nam hiện chỉ giữ lại khoảng 4-5% giá trị giao dịch liên quan, trong khi phần lớn giá trị gia tăng được thực hiện tại các trung tâm tài chính quốc tế khác. Nếu muốn bước vào giai đoạn tăng trưởng mới, Việt Nam cần nâng tỷ lệ giá trị giữ lại trong nước.

Để làm được điều đó, phải xây dựng hệ sinh thái hàng hải hoàn chỉnh, từ đóng tàu, nhiên liệu, nhân lực đến các dịch vụ giá trị cao như tài trợ vốn, cho thuê tài chính, bảo hiểm, tái bảo hiểm và tài chính xanh.

Theo tôi, tài chính hàng hải là một trong những hệ sinh thái có tiềm năng lớn nhất trong khuôn khổ VIFC và là cơ hội đáng để nhà đầu tư quốc tế quan tâm ngay từ giai đoạn đầu.

Ông Richard D. McClellan: Tôi đồng ý rằng các hệ sinh thái như tài chính hàng hải sẽ hình thành theo thời gian. Tuy nhiên, việc xây dựng một trung tâm tài chính hàng hải hoàn chỉnh cần thời gian vì mỗi sản phẩm đều phải có khuôn khổ pháp lý riêng. Trong một đến hai năm tới, ưu tiên của chúng tôi vẫn là xác định những sản phẩm có thể triển khai trước, sau đó từng bước mở rộng hệ sinh thái.

Bà Hoàng Việt Phương: Bên cạnh các sản phẩm tài chính truyền thống, tài sản số đang là lĩnh vực có thể thay đổi bản đồ tài chính toàn cầu. Thưa Đại sứ Knapper, ông có kỳ vọng Đạo luật CLARITY (độ rõ ràng của Thị trường Tài sản Kỹ thuật số) của Mỹ sẽ được thông qua trong năm nay không? Và nếu không, Mỹ có còn cơ hội trở thành trung tâm tài sản số toàn cầu?

Ông Marc Knapper: Đạo luật GENIUS (Đạo luật Hướng dẫn và Thiết lập Đổi mới Quốc gia cho Stablecoin của Mỹ) đã được thông qua, trong khi Đạo luật CLARITY vẫn đang được xem xét cùng nhiều chương trình nghị sự khác của Quốc hội Mỹ. Vì vậy, rất khó dự đoán liệu dự luật này có được thông qua trong năm nay hay không. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất đối với thị trường tài sản số vẫn là sự rõ ràng về mặt pháp lý.

Dù CLARITY có được thông qua hay không, tôi cho rằng Mỹ vẫn có lợi thế rất lớn nhờ hệ sinh thái công nghệ phát triển, nguồn nhân lực chất lượng cao và vai trò trung tâm của đồng USD trên thị trường tài chính toàn cầu. Đây là những nền tảng giúp Mỹ tiếp tục giữ vị thế hàng đầu trong lĩnh vực tài sản số.

Cựu Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Marc Knapper tại sự kiện. Ảnh: SSI

CÙNG CHUYÊN MỤC